Biết rõ nhà đang tranh chấp vẫn bán
Theo đó, sau khi TAND TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ tranh chấp liên quan ngôi nhà trên đường Lương Hữu Khánh (Đà Nẵng), bà N.T.B.T. - bị đơn - đã kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H.A.Tr. vắng mặt dù được tòa triệu tập 2 lần. Bà V.T.H. có yêu cầu độc lập, đề nghị tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu và giải quyết hậu quả.
Tòa xác định lại tư cách tố tụng: bà V.T.H. là nguyên đơn; bà N.T.B.T. và ông H.A.Tr. là bị đơn.
Theo tòa, nguồn gốc nhà đất trên đường Lương Hữu Khánh là do ông H.A.Tr. (trước đây là Việt kiều Mỹ) gửi tiền về nhờ người thân là ông N.V.M. mua, làm nhà, đứng tên hộ.
Năm 2009, ông Tr. về ở tại đây, sau đó cưới và chung sống với bà N.T.B.T. (không đăng ký kết hôn).
Ông Tr. và bà T. lập giấy cam kết đồng ý cho ông M. chuyển nhượng nhà đất cho bà T. với giá 1 triệu đồng để hợp thức hóa giấy tờ, trong khi số tiền này không có thực. Ông Tr. cũng cam kết nếu phát sinh tranh chấp sẽ chịu trách nhiệm.
Ngôi nhà được chuyển nhượng cho bà T. với giá 1 triệu đồng.
Bà T. cho rằng việc ông Tr. đồng ý chuyển nhượng nhà đất cho bà là để cấn trừ tiền mà ông Tr. đã nhận. Tuy nhiên, không có chứng cứ chứng minh và ông Tr. không thừa nhận.
Tòa xác định hợp đồng trên chỉ là hình thức để hợp thức hóa việc bà T. đứng tên trên sổ đỏ, bị vô hiệu do giả tạo.
Sau đó, bà T. chuyển nhượng nhà đất cho bà V.T.H. và được chỉnh lý biến động sang tên.
Theo tòa, tại thời điểm chuyển nhượng, bà T. biết rõ nhà đất đang có tranh chấp, đang được tòa giải quyết nhưng vẫn tự ý chuyển nhượng là lừa dối.
Việc chuyển nhượng là vi phạm nên hợp đồng giữa bà T. và bà H. vô hiệu.
Xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường
Hợp đồng vô hiệu nên bà T. phải hoàn trả số tiền đã nhận. Hợp đồng chuyển nhượng năm 2016 được công chứng, ghi giá 900 triệu đồng. Tuy nhiên, hợp đồng đặt cọc thể hiện giá thực tế các bên thỏa thuận là 4,8 tỉ đồng và bà H. đã thanh toán đủ.
Về thiệt hại, tòa xác định khoản chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá trị tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
Theo chứng thư thẩm định giá ngày 14-7-2026, nhà đất trên có giá trị hơn 29,5 tỉ đồng. Phần chênh lệch là hơn 24,7 tỉ đồng.
Về lỗi, tòa cho rằng bà H. không có lỗi vì không biết nhà có tranh chấp, căn cứ vào sổ đỏ đứng tên bà T., hợp đồng được công chứng, đã thanh toán đủ tiền và nhận nhà.
Còn bà T. biết rõ nhà đất có tranh chấp nhưng vẫn chuyển nhượng nên có lỗi chủ yếu.
Đối với ông Tr., việc thay đổi người đứng tên hộ từ người thân sang bà T. là theo ý chí của ông, và cam kết "nếu sau này có tranh chấp tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm". Do ông nhờ bà T. đứng tên hộ tài sản nhưng không có biện pháp bảo vệ, dẫn đến bà T. có thể lừa dối bà H.
Tòa xác định bà T. chịu 75% lỗi (tương ứng 75% giá trị thiệt hại), ông Tr. phải chịu 20% và công chứng viên phải chịu 5%. Tuy nhiên bà H. có đơn không yêu cầu công chứng viên và văn phòng công chứng phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Tòa đình chỉ yêu cầu của ông H.A.Tr.; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V.T.H., tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N.T.B.T. và bà V.T.H. vô hiệu.
Ông Tr. và bà T. phải liên đới bồi thường, hoàn trả cho bà H. hơn 28,3 tỉ đồng. Trong đó, bà T. phải bồi thường hơn 23,3 tỉ đồng, ông Tr. hơn 4,9 tỉ đồng.
Sau bản án năm 2023, ngôi nhà được bán sang tay
Vụ tranh chấp này đã nhiều lần được đưa ra xét xử.
Năm 2018, TAND TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của ông Tr. về việc công nhận nhà đất này thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông.
Năm 2019, TAND cấp cao tại Đà Nẵng xử phúc thẩm, bác kháng cáo của ông Tr.
Năm 2020, TAND tối cao kháng nghị. Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án phúc thẩm, sơ thẩm; giao TAND TP Đà Nẵng giải quyết lại.
Năm 2022, TAND TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm lại, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tr., công nhận ông có quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà.
Bà N.T.B.T. và bà V.T.H. kháng cáo bản án sơ thẩm. Năm 2023, TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm, bác kháng cáo.
Đến năm 2026, TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm. Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hủy bản án phúc thẩm, sơ thẩm; giao TAND TP Đà Nẵng xét xử lại.
Được biết, sau khi bản án phúc thẩm năm 2023 có hiệu lực, công nhận quyền sở hữu, sử dụng nhà đất của ông Tr., ông đã chuyển nhượng nhà đất cho người khác.